05/6/2026
Thứ Sáu tuần IX Thường Niên
Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo
Lễ nhớ
Ca nhập lễ
Vị thánh này đã chiến đấu đến chết vì lề luật Chúa, và không sợ hãi lời đe dọa của những kẻ gian ác, vì người đã được xây dựng trên tảng đá vững chắc.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, nhờ ơn Chúa thánh Bô-ni-phát giám mục đã dùng lời nói rao giảng đức tin và lấy máu đào để minh chứng. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con giữ vững lòng tin, và lấy cả cuộc đời để can đảm tuyên xưng lòng tin đó. Chúng con cầu xin…
Bài đọc
Phụng vụ Lời Chúa – (theo ngày trong tuần)
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin đổ tràn ân phúc mà thánh hoá những lễ vật này và xin đốt lên trong lòng chúng con chính ngọn lửa yêu mến xưa đã làm cho thánh Bô-ni-phát lướt thắng mọi cực hình thể xác để trung thành với Chúa mãi đến cùng. Chúng con cầu xin…
Hoặc:
Lạy Chúa, xin chấp nhận của lễ chúng con dâng trong ngày lễ thánh Bô-ni-phát tử đạo. Ước chi của lễ này cũng được Chúa coi trọng như xưa Chúa đã từng coi trọng cái chết của thánh nhân. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa phán: Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa thông hiệp với Mình và Máu Ðức Kitô. Ước gì chúng con nhờ đó mà tìm được sức mạnh tinh thần xưa đã làm cho thánh Bô-ni-phát tử đạo thắng mọi gian khổ để trung thành với Chúa mãi đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin…
Suy niệm
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Cuộc tử đạo của thánh giám mục thành Mayence và 52 người bạn đã diễn ra ngày 5 tháng 6 năm 754. Trong khi dâng Thánh lễ ở Dokkum, thuộc Frise miền Bắc (Hà Lan ngày nay), các Ngài đã bị dân Frisons sát hại, dẫu rằng họ đã được các ngài loan báo Tin Mừng của Chúa. Lễ nhớ thánh Boniface ca ngợi ngài là vị Tông Đồ vĩ đại của nươc Đức. Ngài hoạt động truyền giáo đến tận vương quốc dân Francs.
Mãi đến năm 1874, theo lời yêu cầu của các Nghị phụ Công đồng Vaticanô I, người ta mới đưa lễ nhớ thánh Boniface vào lịch Giáo triều Rôma. Tuy nhiên thánh nhân đã được tôn kính không những tại Đức, mà còn ở Anh là quê quán của ngài. Nơi đây, một Công đồng đã ban tặng người tước hiệu Đấng Thánh Bảo Trợ, bên cạnh thánh Grégoire Cả và thánh Augustin de Cantorbéry.
Winfrid sinh khoảng năm 673 tại vương quốc Anglo-saxon Wessex, nước Anh. Ngài được giáo dục trong các Đan viện Biển Đức miền Exeter và Nutshulling và khấn dòng năm 715.
Vì mong ước ra đi loan báo chân lý đức tin cho dân ngoại, lần đầu tiên ngài đến Frise năm 716. Nhưng nỗ lực này kết thúc trong thất bại. Năm 719, Đức Giáo Hoàng Grégoire II trao ngài sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những kẻ thờ tà thần ở Đức, và cho gọi ngài bằng tên của một vị thánh tử đạo người Rôma: Bonifacius. Năm 722, ngài được phong giám mục, trực thuộc Tòa thánh nên không có giáo phận riêng.
Sau khi loan báo Tin Mừng cho miền Hesse – nơi đây ngài đã hạ ngã Cây sồi thiêng Donar, gần Geismar vào năm 725 – ngài sang Thuringe, lưu lại nơi này bảy năm và lập nhiều Đan viện. Sau đó, Đức Giáo Hoàng Grégoire III trao cho ngài một cánh đồng truyền giáo mới ở Bavière và phong ngài làm Tổng giám mục năm 732. Boniface ở lại đó 9 năm, cho đến năm 741, vào thời điểm này ngài lập các giáo phận quan trọng thuộc giáo tỉnh như Salzbourg, Freising, Ratisbonne, Passau.
Để hoàn thành tốt hơn sứ vụ loan báo Tin Mừng, thánh giám mục xin Đức Giáo Hoàng Zacharie quyền đặc miễn của Giáo Hoàng cho Đan viện Fulda mà ngài vừa thành lập năm 744: đây là quyền đặc miễn đầu tiên trong lịch sử.
Năm 747, dưới áp lực của các môi trường người Francs, xem Boniface như một người Anglo-saxon nguy hiểm, nên Pépin le Bref đã tách Boniface ra khỏi các nơi ấy. Sau cùng, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần năm 754, ngài bị một nhóm người ngoại đạo sát hại cùng với 52 bạn, trong khi ngài đang rao giảng Tin Mừng cho miền Frise miền Bắc. Các thánh tích của ngài luôn được sùng kính tại Đan viện Fulda. Chính vì luôn trung thành tưởng nhớ đến ngài mà các giám mục Đức thường qui tụ về thành phố này.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện mới trong Thánh lễ được trích từ sách lễ Ambroise và Paris. Lời nguyện xin thánh giám mục Boniface chuyển cầu “cho chúng ta giữ vững lòng tin và lấy cả cuộc đời can đảm tuyên xưng lòng tin mà thánh tử đạo đã dùng lời nói rao giảng và lấy máu đào để chứng minh”. Nhờ tích cực hoạt động Tông Đồ trong nhiều vùng đất châu Âu, và cũng nhờ tiếp xúc dễ dàng với các Giáo Hoàng và các vị vua chúa, ngài đã hỗ trợ việc chuyển giao quyền Giáo Hoàng từ thời Byzantin sang thời Francs.
Phương pháp truyền giáo của Boniface dựa trên hai điểm chính: trước hết tìm kiếm sự hậu thuẫn của vua chúa và quan quyền mà không bao giờ phương hại sự tự do của Hội thánh; sau đó, kêu gọi sự hỗ trợ của các Đan viện, là những trung tâm đích thực của đời sống Kitô giáo và rao giảng Tin Mừng.
Khi phân chia vương quốc của Charles Martel năm 741; Carloman được hưởng vùng Austrasie, đã nhờ Boniface giúp loại bỏ những sự lạm dụng trong việc chuyển nhượng bổng lộc danh tước, và buông lỏng kỷ cương trong giới giáo sĩ và ngay cả các đan sĩ Celte phiêu bạt. Để đạt mục đích này, Boniface đã triệu tập một Công đồng chung các giám mục Francs tại Soisson năm 742. Công đồng này kéo dài trong ba năm và đã đưa ra sắc lệnh cải tổ quan trọng trong Giáo hội Francs.
Các Đan viện là những trung tâm sinh hoạt Phụng Vụ và cũng là trung tâm văn hóa xã hội. Việc phát triển xây dựng các Đan viện là một trong những đặc điểm quan trọng trong việc thánh nhân xây dựng và tái tổ chức các Giáo hội, như ở Bavière, Thuringe hay tại các quốc gia nói tiếng Pháp. Thánh Boniface cũng là tác giả sách ngữ pháp, hệ thống đo lường và sáng tác nhiều thơ văn.
Bài đọc – Kinh sách đề xuất một lá thư của thánh giám mục Boniface qua đó chúng ta thấy được các đặc tính của vị mục tử như ngài: “… Chúng ta chớ như những con chó câm, những lính canh thinh lặng, những kẻ chăn thuê chạy trốn sói dữ; nhưng chúng ta hãy là những mục tử chuyên chăm, biết lo lắng cho đoàn chiên Chúa Kitô, biết rao giảng mọi ý định của Thiên Chúa cho hết mọi người, thuộc mọi tầng lớp cũng như tuổi tác, cho kẻ lớn cũng như người bé, cho người giàu cũng như kẻ nghèo, trong mức độ Thiên Chúa giúp sức cho, lúc thuận tiện cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, theo cách thức như thánh Grégoire đã chép trong sách mục vụ” (Thư 78).
Enzo Lodi
SỨ VỤ LOAN BÁO MẦU NHIỆM ĐỨC GIÊSU KITÔ
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu dùng Thánh vịnh 110 để chất vấn các luật sĩ về danh hiệu “Con vua Đavít”. Ngài không phủ nhận nguồn gốc nhân tính thuộc dòng tộc Đavít như các ngôn sứ đã loan báo. Tuy nhiên, Ngài muốn dẫn đưa con người đến một mầu nhiệm cao sâu hơn: Đấng Kitô không chỉ là một vị vua trần thế, mà chính là Thiên Chúa thật, là “Chúa” của vua Đavít.
Mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời nhập thể, mang trọn vẹn cả nhân tính lẫn thiên tính để cứu độ nhân loại, chính là cốt lõi của căn tính Kitô giáo và là trung tâm của sứ vụ loan báo Tin Mừng. Sứ vụ này đòi hỏi chúng ta không thể giới thiệu Đức Giêsu một cách phiến diện. Nếu quá nhấn mạnh thiên tính, chúng ta biến Ngài thành một vị thần xa vời; nếu chỉ thấy nhân tính, chúng ta biến Ngài thành một vĩ nhân trong lịch sử. Người môn đệ truyền giáo phải mang theo một niềm xác tín trọn vẹn: Đức Giêsu là Thiên Chúa thật đã làm người, như thánh Irênê khẳng định: “Thiên Chúa làm người để con người được trở thành Thiên Chúa”.
Sứ vụ loan báo Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đưa lời tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” ra khỏi những công thức trừu tượng hay môi miệng, để đi vào đời sống thực tế. Chúng ta chỉ thực sự lay động lòng người khi biết gặp gỡ và làm chứng về Ngài qua từng biến cố cuộc sống. Đặc biệt, chúng ta được sai đi để nhận ra dung mạo của Chúa Giêsu Kitô nơi những anh chị em nghèo hèn, đau khổ và bị bỏ rơi. Khi chúng ta yêu thương và phục vụ tha nhân bằng tình yêu của Chúa, chúng ta đang dọn đường cho mọi loài mở miệng tuyên xưng danh thánh Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một đức tin kiên vững để nhận biết Chúa là Thiên Chúa thật và là người thật. Xin thúc bách chúng con hăng hái lên đường, đem tình yêu nhập thể của Chúa đến cho những người chưa nhận biết Ngài, qua chính đời sống dấn thân phục vụ tha nhân của chúng con. Amen.
Lm. Gioan Baotixita Vũ Quốc Đạt

